Từ cách tiếp cận chủ yếu là vận động, tập hợp, chăm lo, Nghị quyết mở rộng theo hướng đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực và đặc biệt phát huy vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin, tuyên truyền. Trong không gian số không biên giới, mỗi kiều bào, bằng vị thế, trải nghiệm và uy tín của mình, có thể trở thành một cầu nối lan tỏa hình ảnh, giá trị và sức mạnh mềm của Việt Nam ra thế giới.


Hình ảnh: cờ đỏ sao vàng và hành trình đến tương lai
Trong suốt nhiều thập kỷ, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Từ Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 45-CT/TW năm 2015 đến Kết luận số 12-KL/TW năm 2021, quan điểm nhất quán xuyên suốt là người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã phát triển cả về quy mô, cơ cấu và vị thế. Với hơn 6,5 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng có nhiều chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, lao động kỹ thuật cao; một bộ phận đã có vị trí và uy tín trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tại nước sở tại.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Điểm đáng chú ý của Nghị quyết 23-NQ/TW chính là yêu cầu “nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển của đất nước”. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức công tác, mà sâu xa hơn là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về vị trí của cộng đồng kiều bào. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng của chính sách, mà được xác định là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần cởi mở, cầu thị của Đảng tiếp tục được thể hiện rõ khi Nghị quyết khẳng định Đảng và Nhà nước luôn trân trọng, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ chế, tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước; đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách; tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nghiên cứu xây dựng hướng dẫn để người Việt Nam ở nước ngoài trở thành thành viên của một số tổ chức chính trị - xã hội ở trong nước. Những định hướng đó cho thấy một bước phát triển mới trong tư duy đại đoàn kết dân tộc: không chỉ tập hợp lực lượng, mà quan trọng hơn là kiến tạo môi trường, cơ chế và không gian để mỗi người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu, đều có thể phát huy năng lực, trí tuệ và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn chặt với sức mạnh mềm và uy tín kinh tế hay vị thế chính trị, mà còn được phản chiếu qua chính con người của quốc gia đó. Nghị quyết 23-NQ/TW xác định mục tiêu xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định; đồng thời giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị nhân văn, lịch sử và ngôn ngữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau. Đáng chú ý, Nghị quyết xác định rõ việc phát huy vai trò “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia. Đó là một định vị có ý nghĩa sâu sắc. Một kiều bào hội nhập thành công, có trách nhiệm với cộng đồng sở tại, tôn trọng pháp luật, gìn giữ bản sắc dân tộc và hướng về quê hương chính là một hình ảnh sinh động về con người Việt Nam trong thời đại hội nhập. Những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong khoa học, kinh doanh, văn hóa, giáo dục, thể thao, nghệ thuật hay hoạt động xã hội đều có thể trở thành những nhịp cầu tự nhiên đưa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong gìn giữ ngôn ngữ tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, văn hóa và bản sắc của một dân tộc. Giữ gìn tiếng Việt chính là giữ gìn một trong những sợi dây bền chặt nhất kết nối các thế hệ người Việt xa xứ với cội nguồn. Vì vậy, việc đổi mới phương thức nghiên cứu, giảng dạy và tôn vinh tiếng Việt; hỗ trợ đào tạo giáo viên; phát huy vai trò các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; quan tâm đến thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn văn hóa, mà còn là đầu tư cho tương lai của cộng đồng người Việt toàn cầu. Bởi một cộng đồng giữ được bản sắc nhưng hội nhập sâu rộng sẽ có sức sống bền vững hơn; và chính cộng đồng ấy sẽ trở thành lực lượng lan tỏa tự nhiên, hiệu quả nhất hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Nếu việc định vị người Việt Nam ở nước ngoài là “đại sứ văn hóa” thể hiện chiều sâu về giá trị, thì nội dung “phát huy vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin, tuyên truyền” lại mang đậm hơi thở của thời đại số. Lần đầu tiên, Nghị quyết 23-NQ/TW dành riêng một nội dung để nhấn mạnh vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền. Theo đó, Nghị quyết khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quảng bá, lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam giàu bản sắc văn hóa, nghĩa tình, thủy chung, nhân văn, trách nhiệm. Nghị quyết cũng yêu cầu tăng cường chia sẻ thông tin khách quan, chính xác về tình hình phát triển, uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; đa dạng hóa phương thức truyền tải thông tin trên nền tảng số. Đây là điểm gặp gỡ giữa tư duy mới về công tác kiều bào với xu thế chuyển đổi số quốc gia được xác định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong không gian số, khoảng cách địa lý dần bị thu hẹp. Một chuyên gia Việt Nam tại châu Âu, một doanh nhân tại Hoa Kỳ, một sinh viên tại Australia hay một nghệ sĩ tại Hàn Quốc đều có thể trực tiếp kết nối với cộng đồng trong nước và quốc tế. Mỗi câu chuyện về hành trình hội nhập, mỗi thành công trong nghiên cứu, kinh doanh, sáng tạo hay hoạt động xã hội, nếu được chia sẻ chân thực và có trách nhiệm, đều có thể góp phần làm phong phú thêm hình ảnh về một Việt Nam năng động, đổi mới và hội nhập. Giá trị đặc biệt của kiều bào trong hoạt động truyền thông đối ngoại chính là tính chân thực của trải nghiệm và khả năng kết nối trực tiếp với xã hội sở tại. Thông tin về Việt Nam được lan tỏa từ chính những người đang sinh sống, học tập, làm việc và hội nhập thành công ở nước ngoài có thể tạo nên những kênh kết nối tự nhiên giữa Việt Nam với thế giới. Nghị quyết cũng xác định vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và các hoạt động lợi dụng người Việt Nam ở nước ngoài để chống phá đất nước; góp phần bảo vệ uy tín, lợi ích quốc gia - dân tộc và tăng cường sức mạnh mềm của Việt Nam. Tuy nhiên, phát huy vai trò chủ thể không có nghĩa là để mỗi cá nhân hoạt động đơn lẻ. Vai trò ấy cần được đặt trong một hệ sinh thái thông tin hiện đại, được kết nối, hỗ trợ, bồi dưỡng và định hướng bằng thông tin chính xác, kịp thời.
Một trong những điểm quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW là không đặt toàn bộ trách nhiệm lên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Ngược lại, Nghị quyết xác định công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của đồng bào trong và ngoài nước. Muốn kiều bào thực sự phát huy vai trò chủ thể, điều đầu tiên cần có là một môi trường thể chế cởi mở, minh bạch và thuận lợi. Vì vậy, Nghị quyết yêu cầu tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, kiến tạo và phục vụ. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện thuận lợi trong các lĩnh vực quốc tịch, nhà ở, đầu tư và các hoạt động đóng góp cho quê hương, đất nước. Trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền, Nghị quyết xác định rõ Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng để người Việt Nam ở nước ngoài tích cực tham gia, hợp tác trong công tác thông tin, tuyên truyền về Việt Nam ở nước sở tại. Bên cạnh đó là yêu cầu xây dựng, liên thông và vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài; định kỳ tổ chức các diễn đàn, cơ chế đối thoại để tiếp nhận, phản hồi và phát huy các sáng kiến, đề xuất của cộng đồng kiều bào.
Nghị quyết 23-NQ/TW mở ra một cách tiếp cận mới đối với cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Đó là cách tiếp cận không chỉ nhìn kiều bào từ góc độ đối tượng cần vận động, tập hợp và chăm lo, mà nhìn nhận đầy đủ hơn vị thế của một cộng đồng đang ngày càng trưởng thành, hội nhập sâu rộng, có tri thức, kinh nghiệm, mạng lưới và ảnh hưởng quốc tế. Khi được đồng hành bằng cơ chế phù hợp, được kết nối bởi nền tảng số, được nuôi dưỡng bằng lòng tự hào dân tộc và được tạo điều kiện để đóng góp, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ không chỉ là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước. Họ còn có thể trở thành những chủ thể tích cực trong việc lan tỏa hệ giá trị Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và kết nối Việt Nam với thế giới. Từ mỗi gia đình Việt nơi xa xứ, mỗi lớp học tiếng Việt, mỗi doanh nghiệp, phòng thí nghiệm, trường đại học, diễn đàn quốc tế hay nền tảng số, hình ảnh Việt Nam có thể được kể bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng cùng chung một giá trị: một dân tộc giàu bản sắc, nghĩa tình, nhân văn, trách nhiệm và không ngừng vươn lên. Đó chính là sức mạnh của một cộng đồng dân tộc không bị giới hạn bởi biên giới địa lý. Và khi hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài được kết nối bằng niềm tin, trách nhiệm và khát vọng cống hiến, mỗi kiều bào không chỉ là một nhịp cầu nối Việt Nam với thế giới, mà còn là một chủ thể góp phần đưa những giá trị Việt Nam lan tỏa sâu rộng hơn trong dòng chảy của thời đại.